Bệnh nghẹt rễ sinh lý gây hiện tượng thối đen rễ, lá khô đỏ vàng, cây đình trệ sinh trưởng, đẻ nhánh kém, nếu không phòng trừ kịp thời có thể bị lụi chết hàng vạt lớn, có khi chết cả ruộng. Lúa bị bệnh nhẹ lá vàng, chót lá khô đỏ, cứng thô, trên lá kèm theo nhiều vết bệnh đốm nâu.
Bệnh sinh lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của cây làm giảm năng
suất rõ rệt. Bệnh xuất hiện phổ biến ở giai đoạn lúa mới cấy đến bén rễ
hồi xanh đẻ nhánh, nhất là sau cấy gặp rét kéo dài trên những chân
ruộng sâu trũng, ngập úng, đất dộc chua,...
Nguyên nhân:
- Do đất thiếu oxy: Ruộng bón nhiều phân hữu cơ chưa hoai mục, phân xanh không ủ hoặc ruộng trũng hẩu từ lâu chứa nhiều chất hữu cơ chưa phân giải, khi phân giải nhanh, tiêu hao nhiều oxy trong đất gây tình trạng thiếu oxy, yếm khí. Ruộng nước sâu, úng ngập liên tục, nước ứ đọng lâu ngày không tháo được cũng dễ gây tình trạng thiếu oxy, tích tụ nhiều khí độc, các axít tích luỹ nhiều làm tăng độ chua của đất ảnh hưởng đến sự hô hấp và sinh trưởng của bộ rễ. Số rễ mới không mọc thêm ra, rễ cũ bị đen thối dần, khả năng hút chất dinh dưỡng giảm gây tình trạng cây thiếu dinh dưỡng.
- Do canh tác: Do cấy trong những ngày thời tiết rét đậm, cấy sâu tay, cấy mạ già, thiếu phân bón lót đặc biệt là phân hữu cơ hoai mục và phân lân.
Biện pháp khắc phục:
- Đối với ruộng trũng, lầy thụt cần có các biện pháp tác động nhằm hạn chế khí độc có ở trong đất; những ruộng đất dộc chua cần cày bừa kỹ, phơi ải, bón vôi bột để cải tạo độ chua.
- Khi ruộng chớm bị bệnh tháo kiệt nước phơi vài ba ngày, nếu ruộng trũng không tháo được nước thì phải bón thêm vôi bột và phân chuồng hoai mục, tăng cường làm cỏ sục bùn, có thể sử dụng thuốc Antracol 70 WP (Pha 25 gam/bình 12 lít phun đều cho 1 sào), K-H (pha 10ml/bình 12 lít, phun 2 bình/sào); khi cây lúa hồi xanh trở lại, bộ rễ mới phát triển (màu trắng) thì tiến hành chăm sóc bình thường.