Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT cùng LĐ Chi cục BVTV kiểm tra, đánh giá tình hình sâu bệnh và năng suất lúa xuân 2018 tại Cẩm Khê
Vụ xuân năm 2018, nền
nhiệt độ phổ biến ở mức xấp xỉ trung bình nhiều năm (TBNN). Cây lúa sinh trưởng
khá thuận lợi ngay từ đầu vụ. Một số đối tượng dịch hại phát sinh và gây hại muộn
hơn so với cùng kỳ năm 2017; qui mô và mức độ gây hại thấp hơn cùng kỳ năm 2017
và TBNN, kết quả điều tra, đánh giá của Chi cục BVTV cụ thể như sau:
- Về
tình hình sâu bệnh vụ xuân 2018:
Bệnh
khô vằn: Gây hại trên diện rộng. Diện tích nhiễm 11.466,3 ha (nhiễm nhẹ 7.152,7
ha; trung bình 3.871,8 ha; nặng 441,7 ha), giảm gần 4.500 ha so với cùng kỳ năm
trước (CKNT).
Bệnh sinh lý: Gây hại
trên diện rộng. Diện tích nhiễm 2.666,7 ha (nhiễm nhẹ 2.229,3 ha; trung bình 387,7
ha; nặng 33,6 ha), giảm 200 ha so với CKNT.
Rầy các loại: Gây hại
trên diện hẹp, cục bộ hại nặng. Diện tích nhiễm 829,4 ha (nhiễm nhẹ 685,4 ha;
trung bình 118,9 ha; nặng 25,1 ha), giảm 807 ha so với CKNT, mức độ gây hại
cũng thấp hơn.
Bệnh đạo ôn lá: Phát
sinh gây hại trên diện hẹp, mức độ hại nhẹ đến trung bình, cục bộ ổ hại nặng.
Diện tích nhiễm 159,26 ha (nhiễm nhẹ 132,34 ha; trung bình 36,23 ha; nặng 0,69
ha), giảm 740 ha so với CKNT.
Chuột: Phát sinh diện
rộng. Diện tích hại 495,8 ha (hại nhẹ 432,5 ha, hại trung bình 63,3 ha; không
có hại nặng), giảm 3.600 ha so với CKNT.
Bệnh bạc lá, đốm sọc vi
khuẩn: Gây hại trên diện hẹp. Diện tích nhiễm 85,6 ha (nhiễm nhẹ 78,1 ha, trung
bình 7,5 ha; không có diện tích nhiễm nặng), giảm 330 ha so với CKNT.
Ngoài ra: Ốc bươu vàng
gây hại đầu vụ, mức độ hại nhẹ đến trung bình; Bọ xít dài, bọ xít đen, sâu đục
thân, bọ trĩ, ruồi đục nõn gây hại nhẹ.
- Về công tác chỉ đạo: Với
tình hình sâu, bệnh như vậy, chi cục BVTV đã tham mưu, trình Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành 05 văn bản chỉ đạo,
đồng thời ban hành 17 văn bản
chỉ đạo, thông báo, hướng dẫn, đề xuất các biện pháp phòng trừ kịp thời, có
hiệu quả. Căn cứ vào tình hình sâu bệnh trên địa bàn, Chi cục đã chỉ đạo
các trạm BVTV tham mưu cho UBND huyện, thành, thị ra các văn bản chỉ đạo diệt
chuột tập trung và chỉ đạo phòng trừ sâu bệnh hại lúa xuân. Các địa phương đều ra văn bản và quyết liệt
vào cuộc, chỉ đạo nông dân áp dụng các biện pháp phòng trừ.
- Về biện pháp kỹ thuật: Chi
cục đã chỉ đạo và thực hiện rà soát 39 điểm điều tra DTDB trên cây lúa phù hợp
với cơ cấu giống cây trồng của từng huyện, thành, thị. Triển khai hoạt động 04
bẫy đèn tại huyện Thanh Sơn, Thanh
Thủy, Đoan Hùng và Phù Ninh. Hướng dẫn tổ chức diệt chuột tập trung trên toàn
tỉnh: Thời gian diệt chuột tập trung từ ngày 25/02 đến 15/3/2018 (giai
đoạn lúa đẻ nhánh rộ), đã giảm đáng kể số
lượng quần thể chuột ngay từ đầu vụ, giảm sự phá hoại do chuột gây ra. Tổ chức
04 đợt tổng điều tra sâu bệnh bổ sung trên toàn tỉnh, nhằm đánh giá tình
hình sâu bệnh hiện tại để thông báo, dự báo, hướng dẫn và chỉ đạo phòng trừ.
- Về công tác tập huấn, tuyên truyền:
Chi cục đã triển khai 01 cuộc tập
huấn nghiệp vụ cấp tỉnh về “Nhận
biết và biện pháp phòng trừ bệnh
vàng lụi, lùn sọc đen hại lúa, ngô”. Tổ
chức 13 lớp tuyên truyền về “Nhận
biết và biện pháp phòng trừ bệnh
vàng lụi, lùn sọc đen hại lúa, ngô” cho
13 huyện, thành, thị. Tổ chức 13 lớp kỹ thuật gieo cấy SRI và quản lý
dịch hại tổng hơp (IPM) cho 780 học viên là KNCS và nông dân. Biên
soạn và cấp 650 bộ tài liệu về Nhận biết và biện pháp phòng trừ Bệnh vàng lụi,
lùn sọc đen hại lúa, ngô. Phối hợp với Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh
Phú Thọ thực hiện 02 chuyên mục về Biện pháp diệt chuột vụ chiêm
xuân 2018, Sâu bệnh hại lúa trong cao điểm vụ chiêm xuân và
biện pháp phòng trừ tại Tam Nông; 04 phóng sự về Cảnh báo một số đối tượng sâu bệnh trên lúa và
công tác chỉ đạo tại Việt Trì, Lâm Thao; Tổ chức diệt chuột tại
Thanh Sơn và kết quả diệt chuột tại Tiên Kiên, Lâm Thao và Đánh giá năng
suất cuối vụ. 16 tin, bài được đăng báo, tạp chí, Website Sở và Website Chi
cục. Sưu tầm 06 Clip gửi đăng Website Sở và
Website Chi cục.
- Về kết quả tỷ lệ thiệt hại do sâu bệnh trên các trà:
Tỷ lệ thiệt hại chung trên toàn tỉnh là 0,049%, thấp hơn nhiều so với cùng kỳ và
TBNN, thấp hơn rất nhiều so với mục
tiêu đề ra (1%), trong đó:
Trà xuân sớm, xuân trung: 0,051%, gồm: Do bệnh đạo ôn 0,0004%; rầy các loại 0,0024%; bệnh khô vằn 0,0472%; bạc lá 0,0002%; chuột 0,0016%.
Trà xuân muộn: 0,049%, trong đó: Do rầy các loại 0,0007%; bệnh khô vằn 0,0476%; bạc lá 0,0002%.
- Về kết quả tỷ lệ thiệt hại do sâu bệnh trên một số giống lúa chính:
Các giống lúa gieo cấy
trong vụ chiêm xuân 2018 đều bị các đối
tượng sâu bệnh gây hại, chủ yếu là: Bệnh khô vằn, chuột, rầy các loại, bệnh bạc lá, ..; tuy nhiên, tỷ lệ thiệt hại thấp, một số giống được gieo
trồng chủ yếu:
Nhị ưu 838: Tỷ lệ thiệt
hại 0,052%; trong đó: Do đạo ôn là 0,0002%; rầy các loại 0,002%; khô vằn: 0,047%; bạc lá 0,00008%; chuột 0,0013%.
Nhị ưu số 7: Tỷ lệ thiệt hại 0,046%; trong đó: Do rầy các loại là 0,0009%; khô vằn 0,044%; chuột 0,0008%.
Nếp: Tỷ lệ thiệt hại 0,042%; trong đó: Do khô vằn là 0,042%.
Khang dân 18: Tỷ lệ thiệt hại là 0,036%; trong đó: Do rầy các loại là 0,0018%; khô vằn 0,033%; bạc lá 0,0006%; chuột 0,0006%.
Thiên Ưu 8: Tỷ lệ thiệt hại 0,030%; trong đó: Do đạo ôn là 0,00003%; khô vằn 0,031%;
bạc lá 0,0001%.
HT1: Tỷ lệ thiệt hại là 0,043%; trong đó: Do đạo ôn là 0,002%; khô vằn 0,042%; bạc lá 0,0005%.
GS9: Tỷ lệ thiệt hại là 0,059%; trong đó: Do khô
vằn là 0,059%.
Thục Hưng 6: Tỷ lệ thiệt hại là 0,073%; trong đó: Do rầy các loại là 0,013%; khô vằn 0,040%; bạc lá 0,006%; chuột 0,012%.
J02: Tỷ lệ thiệt hại là 0,071%; trong đó: Do đạo ôn 0,0005%; rầy 0,001%; khô vằn 0,068%; chuột
0,0009%.
TBR225: Tỷ lệ thiệt hại là 0,061%; trong đó: Do khô vằn là 0,062%; chuột 0,001%;
Các giống khác: Tỷ lệ thiệt hại là 0,039%; trong đó: Do rầy các loại là 0,0004%; khô vằn 0,037%; bạc lá 0,001%.
*
Đánh giá chung: Vụ xuân năm
2018, một số đối tượng sâu
bệnh phát sinh, gây hại muộn
hơn, với quy mô và mức
độ gây hại thấp hơn TBNN. Với sự quan tâm chỉ đạo của các cấp,
ngành từ tỉnh đến huyện, xã, sự nỗ lực của bà con nông dân, tình hình sâu bệnh
hại lúa xuân được kiểm soát tốt ngay từ đầu vụ. Tỷ lệ thiệt hại chung trên toàn tỉnh 0,049%; trong đó trà xuân trung 0,051%, trà xuân muộn 0,049%;
thấp hơn nhiều lần so với năm 2017 (Vụ xuân 2017 là 0,117%; trong đó: trà xuân trung 0,148%, trà xuân muộn 0,103%),
đảm bảo an toàn cho sản xuất, góp pần bảo vệ và nâng cao năng suất lúa vụ xuân
2018.
Để tiếp tục triển khai
thực hiện tốt công tác BVTV ở vụ mùa và các vụ tới, đề nghị các cấp, các ngành tiếp tục tăng cường phối hợp
thực hiện tốt hơn nữa công tác chỉ đạo phòng trừ sâu bệnh theo hướng dẫn của cơ
quan chuyên môn; chỉ đạo nông dân gieo cấy đúng khung lịch, cơ cấu giống hợp lý
(Hạn chế tối đa các giống nhiễm sâu bệnh); đẩy mạnh mở rộng diện tích áp dụng
biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM, diện tích áp dụng SRI, tích cực chỉ đạo diệt chuột tập trung góp phần hạn
chế thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra./.
Chi cục trưởng Phan Văn Đạo