Thứ Tư, 13/12/2017
Đánh giá kết quả phòng trừ sâu bệnh vụ xuân 2017
Gửi bài In bài

Vụ xuân 2017, nền nhiệt độ cao hơn rất nhiều so với trung bình nhiều năm, cây lúa và các cây trồng ngắn ngày trong vụ sinh trưởng thuận lợi, nhưng đối với một số cây ăn quả dài ngày như vải, bưởi thì ngược lại. Đây cũng là vụ thời tiết phù hợp cho nhiều đối tượng sâu bệnh phát sinh gây hại, có những diễn biến phức tạp hơn so với nhiều năm.

Đối với cây lúa, tổng diện tích gieo cấy lúa của tỉnh là 36.998 ha, trong đó diện tích lúa lai đạt 19.280 ha; lúa chất lượng đạt trên 9.216 ha; diện tích áp dụng SRI đạt 13.054 ha. Cây lúa sinh trưởng khá thuận lợi ngay từ đầu vụ, các trà lúa trỗ và thu hoạch sớm hơn cùng kỳ 2016 khoảng 1 tuần. Một số đối tượng sâu bệnh có quy mô và mức độ gây hại nhẹ, nhưng cũng có một số đối tượng sâu bệnh cũng phát sinh sớm và có quy mô tăng hơn so với cùng kỳ năm trước (CKNT): Bệnh đạo ôn diện tích nhiễm là 582,5 ha, trong đó nhiễm nặng 1,5 ha, sớm và cao hơn so với CKNT (năm 2016 nhiễm 127 ha, trong đó nhiễm nặng 1,1 ha) chủ yếu trên các giống nếp, JO2, BC15,TBR225, HT1, ... Bệnh khô vằn diện tích nhiễm 7.820,9 ha, trong đó nhiễm nặng 918,1 ha, cao hơn so với CKNT (Năm 2016 diện tích nhiễm 6.600,9 ha, trong đó nhiễm nặng 251,1ha). Bệnh bạc lá, đốm sọc vi khuẩn diện tích nhiễm 273,0 ha, mức độ hại nhẹ đến trung bình, quy mô và mức độ hại thấp hơn so với CKNT. Một số đối tượng khác như rầy các loại, sâu đục thân, sâu cuốn lá nhỏ mặc dù quy mô gây hại thấp hơn so với CKNT nhưng có xu hướng hại mạnh vào cuối vụ. Ngoài ra: ốc bươu vàng, bọ xít dài, ruồi đục nõn,... gây hại không đáng kể, mức độ nhẹ.

Riêng đối với chuột, trong điều kiện ấm chúng đã sinh sản thuận lợi ngay từ vụ đông, phát sinh sớm và gây hại trên diện rộng, nhưng công tác diệt chuột tập trung ở nhiều địa phương trong tỉnh đã triển khai tốt nên quy mô và mức độ hại của chuột giảm so với CKNT. Diện tích nhiễm 1.252,7 ha, trong đó nhiễm nặng 3,7 ha (Năm 2016 diện tích nhiễm 1.328 ha, trong đó nhiễm nặng 14 ha).

Đánh giá tỷ lệ thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với cây lúa cho thấy, tỷ lệ thiệt hại là 0,117% (thiệt hại trên trà trung 0,148%, trà muộn 0,103%), cao hơn so với vụ xuân năm trước (Vụ xuân 2016 là 0,045%), nhưng vẫn thấp hơn nhiều so chỉ tiêu đề ra (tỷ lệ thiệt hại dưới 1%), đảm bảo an toàn cho sản xuất.

Đối với sâu bệnh trên cây ngô và cây rau màu khác, nhìn chung là tương đương và thấp hơn TBNN và CKNT.

Đối với cây chè nhiều đối tượng sâu hại chính đều phát sinh sớm và tăng quy mô hại so với CKNT (Bọ cánh tơ: Diện tích nhiễm 4.253 ha, cao hơn 2.454 ha; Rầy xanh: Diện tích nhiễm 4.784 ha, cao hơn 3.196 ha; Bọ xít muỗi: Diện tích nhiễm 2.810 ha, cao hơn 2.113 ha). Trong khi đó nhiệt độ cao, khô hạn đã làm cho cây chè bập búp kém và chậm hơn so với vụ trước.

Đối với cây ăn quả có múi: Bọ xít hại nhẹ tại các vùng trồng bưởi. Bệnh loét, rệp, nhện đỏ, bệnh chảy gôm, bệnh thán thư, sâu ăn lá, bệnh thối hoa thối quả phát sinh gây hại rải rác.

Đối với cây lâm nghiệp: Châu chấu xuất hiện ở 21 xã trên 4 huyện (Đoan Hùng, Tam Nông, Yên Lập, Hạ Hòa). Diện tích nhiễm châu chấu non 134,36 ha, trong đó trên đồi rừng, bờ cỏ là 130,52 ha; trên lúa, ngô là 3,84 ha. Công tác điều tra và DTDB đối với châu chấu được triển khai quyết liệt, toàn bộ diện tích châu chấu non trên địa bàn tỉnh đã được phát hiện và phòng trừ kịp thời. Sâu ong hại cục bộ tại Xuân Đài, Kim Thượng (Tân Sơn) cũng được xử lý, phòng trừ hiệu quả. Ngoài ra: Bệnh đốm lá, bệnh chết ngược, sâu ăn lá, bệnh phấn trắng phát sinh gây hại rải rác trên cây keo, bạch đàn.

Kết quả phòng trừ sâu bệnh trong vụ cho thấy, hầu hết diện tích nhiễm sâu bệnh đến ng­ưỡng đ­ược phòng trừ kịp thời: Tổng diện tích nhiễm sâu bệnh là 28.675,56 lượt ha; trong đó nhiễm trung bình đến nặng là 5.669,5 lượt ha; Tổng diện tích đã phòng trừ là 9.277,86 lượt ha, trong đó phòng trừ trên cây lúa là 8.105,38 ha; chè 872,5 ha, các cây trồng khác 299,98 ha. Công tác điều tra dự tích dự báo chính xác và tham mưu kịp thời tới các cấp chính quyền về chỉ đạo và hướng dẫn phòng trừ. Diện tích sản xuất an toàn, biện pháp canh tác lúa theo SRI, áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) tiếp tục được mở rộng, góp phần quan trọng trong bảo vệ mùa màng, hạn chế sâu bệnh hại, đồng thời bảo vệ môi trường và đảm bảo an toàn thực phẩm./.

 

TRƯỜNG GIANG

THĂM DÒ Ý KIẾN

Theo bạn : Bố trí giao diện website đã hợp lý chưa?

Kết quả bầu chọn